Ai làm chủ giáo dục có thể thay đổi thế giới ''

Ngày 03 tháng 03 năm 2021

ĐĂNG NHẬP TÀI KHOẢN

 » Tin tức tổng hợp

Tin tức tổng hợp

Cập nhật lúc : 23:47 03/09/2015  

CHỐT PHƯƠNG ÁN TĂNG LƯƠNG TỐI THIỂU 2016 LÊN 3,5 TRIỆU ĐỒNG
Phương án cuối cùng được đưa ra sau cuộc bỏ phiếu của Hội đồng Tiền lương quốc gia trưa nay, với mức tăng trung bình 12,4%.

Phương án được Hội đồng Tiền lương quốc gia thống nhất trình lên Chính phủ sẽ đưa lương tối thiểu vùng I từ 3,1 triệu đồng một tháng (năm 2015) lên 3,5 triệu đồng trong năm sau. Mức áp dụng tương ứng cho các vùng II, III và IV là 3,1 triệu, 2,7 triệu và 2,4 triệu đồng. Như vậy, so với năm 2015, mặt bằng lương tối thiểu vùng dự kiến được tăng trung bình 12,4%.

  Lương tối thiểu 2015 Lương tối thiểu 2016 *
Vùng I 3,1 3,5
Vùng II 2,75 3,1
Vùng III 2,4 2,7
Vùng IV 2,15 2,4

(*): Dự kiến. Đơn vị: triệu đồng/tháng

Quyết định tiến hành bỏ phiếu được đưa ra sau khi Hội đồng phân tích các phương án. Theo đó, có 13 phiếu đồng thuận mức tăng nêu trên, trong số 14 phiếu phát ra. Theo Thứ trưởng Bộ Lao động Thương binh & Xã hội – Phạm Minh Huân, người đồng thời là Chủ tịch Hội đồng, đây là mức đồng thuận cao nhất trong các cuộc họp tăng lương những năm gần đây. Với con số này, lương sẽ đáp ứng được 80% nhu cầu sống tối thiểu của người lao động.

 

Theo đại diện Bộ LĐ-TB&XH: Với con số này, lương sẽ đáp ứng được 80% nhu cầu sống tối thiểu của người lao động. Ảnh minh họa

 

 

Ông Hoàng Quang Phòng, Phó chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) nói: “Chúng tôi dù không thỏa mãn với con số này nhưng vẫn phải chấp nhận. Thực tế, mức tăng lương tối thiểu vùng như trên đã vượt quá khả năng chi trả của doanh nghiệp. Nhưng hội đồng đã quyết định, doanh nghiệp không còn cách nào khác là gồng mình lên để tái sản xuất, nâng cao năng suất lao động để tiếp tục tồn tại”.Bình luận về mức tăng 12,4% sau cuộc họp, đại diện người lao động và cũng như giới chủ sử dụng lao động đều tỏ ra không hài lòng, song chấp nhận kết quả. Ông Mai Đức Chính, Phó chủ tịch Tổng liên đoàn lao động cho rằng dù không thỏa mãn với mức tăng trên nhưng đây là con số có thể giải thích được với người lao động, để cùng chia sẻ khó khăn với doanh nghiệp.

Vị này cho biết thêm, VCCI sẽ tiếp tục tập hợp ý kiến của các doanh nghiệp để kiến nghị giảm mức đóng bảo hiểm xã hội, để có thể “chịu đựng” được áp lực trên. Theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội có hiệu lực từ 1/1/2016, tiền lương sẽ là cơ sở để tính toán mức đòng bảo hiểm.

Trước đó, phiên họp thứ 3 của Hội đồng Tiền lương Quốc gia đã diễn ra căng thẳng. Lúc 11h, thông tin từ ông Vũ Quang Thọ, Viện trưởng Viện Công nhân – Công đoàn (Tổng liên đoàn Lao động) cho thấy các bên chưa tìm được tiếng nói chung. “VCCI vẫn chốt ở con số 10%, cao nhất là 10,7% chứ không lên được đến 11%”, vị này cho hay và cho biết khi đó, Tổng liên đoàn chỉ chấp nhận mức tăng tối thiểu 14,3%.

Vị này nếu Hội đồng quyết định con số thấp hơn 12% và yêu cầu bỏ phiếu thì cơ quan này sẽ thể hiện quan điểm bằng hai phương án: hoặc không chọn con số đó hoặc là bỏ phiếu trắng. Ngoài ra, ông cũng đối thoại lại quan điểm của một số chuyên gia cho rằng tăng lương tối thiểu phải tính đến yếu tố tăng năng suất lao động: “Hiện nay lương tối thiểu vùng thấp hơn so với nhu cầu sống tối thiểu, như vậy thì làm sao đòi hỏi được việc tăng năng suất lao động”, ông nói.

Phiên họp hôm nay được triệu tập để bàn lần cuối mức tăng lương tối thiểu vùng năm 2016 sau hai phiên thất bại trước đó vì đại diện giới chủ sử dụng lao động và đại diện người lao động chưa tìm được tiếng nói chung. Theo đó, đại diện người lao động, Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam đề xuất tăng trên 16% (tương đương từ 350.000 đồng đến 550.000 đồng cho 4 vùng) nhưng Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam VCCI bảo lưu mức tăng 9 – 10% (khoảng 250.000 đồng đến 350.000 đồng cho 4 vùng).

Theo quan điểm của Tổng liên đoàn Lao động, về mặt pháp lý thì Điều 91, Bộ Luật lao động 2012 quy định lương tối thiểu phải đảm bảo nhu cầu sống tối thiểu cho người lao động và gia đình họ. Luật có hiệu lực vài năm mà lương tối thiểu vùng mới chỉ đáp ứng được trên 70% nhu cầu sống tối thiểu của người lao động là một nghịch lý. Ngoài ra, năm nay tình hình kinh tế khá hơn thì mức lương tối thiểu vùng phải cao hơn mức tăng trên 14% của năm 2015, không thể thấp hơn.

Ngược lại, phía VCCI cho rằng, hiện nay có tới 70% doanh nghiệp đang làm ăn không có lãi. Mức tăng lương không hợp lý sẽ trở thành gánh nặng cho doanh nghiệp, làm giảm sức cạnh tranh, thu hẹp sản xuất, đẩy người lao động ra đường. “Chúng tôi đã tính toán rất kỹ mới đưa ra mức tăng trên”, ông Hoàng Quang Phòng, Phó chủ tịch VCCI cho biết.

Một số chuyên gia phân tích, ngoài quan điểm riêng của mỗi bên thì cả hai cần tính toán lương tối thiểu dựa trên tương quan với GDP bình quân đầu người, phù hợp với tốc độ tăng năng suất lao động. Thống kê những năm gần đây cho thấy tốc độ tăng năng suất lao động thấp mà tốc độ tăng tiền lương cao, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp đang suy giảm. Nếu năng suất lao động tăng chậm trong khi mặt bằng lương nói chung tăng nhanh, nhất là lương tối thiểu vùng còn tăng nhanh hơn nữa thì không nền kinh tế nào có thể duy trì bền vững.

Tại Diễn đàn Kinh tế Mùa thu tổ chức ngày 27/8 ở Thanh Hóa, ông Bùi Sỹ Lợi, Phó chủ nhiệm Ủy ban Các vấn đề xã hội đưa ra quan điểm lương tối thiểu vùng năm 2016 tăng khoảng 10% là hợp lý. Theo ông, qua phân tích chỉ số giá tiêu dùng CPI, nếu tăng ở mức trên thì có thể đảm bảo cho doanh nghiệp tồn tại, giữ được việc làm cho người lao động.

“Nếu chúng ta nâng lương quá cao thì người lao động được cải thiện mức sống tốt hơn nhưng doanh nghiệp sẽ rất khó khăn vì giá thành sản phẩm đội lên. Lợi bất cập hại. Trước đây, quan điểm của tôi là tăng khoảng 12%, nhưng trong bối cảnh này, tôi cho rằng điều chỉnh ở mức 10% là thích hợp”, ông nói.

Theo quy định của Hội đồng tiền lương quốc gia, trong mỗi lần họp bàn về mức lương tối thiểu vùng cho năm sau, đại diện hai bên sẽ có quyền được yêu cầu dừng cuộc họp một lần. Trong phiên họp ngày 5/8, VCCI đã xin dừng họp. Phiên thương lượng thứ hai diễn ra vào ngày 25/8, Tổng liên đoàn lao động Việt Nam xin dừng. Như vậy, hai bên đã hết “quota” xin dừng họp.

Quy định 4 vùng để căn cứ trả lương tối thiểu

 1. Vùng I, gồm các địa bàn:

- Các quận và các huyệnĠGia Lâm, Đông Anh, Sóc Sơn, Thanh Trì, Từ Liêm, Thường Tín, Hoài Đức, Thạch Thất, Quốc Oai, Thanh Oai, Mê Linh, Chương Mỹ và thị xã Sơn Tây thuộc thành phố Hà Nội;

- Các quận và các huyện Thủy Nguyên, An Dương, An Lão, Vĩnh Bảo thuộc thành phố Hải Phòng;

Các quận và các huyện Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh, Nhà Bè thuᷙc thành phố Hồ Chí Minh;

- Thành phố Biên Hòa và các huyện Nhơn Trạch, Long Thành, Vĩnh Cửu, Trảng Bom thuộc tỉnh Đồng Nai;

- Thị xã Thủ DầuĠMột và các huyện Thuận An, Dĩ An, Bến Cát, Tân Uyên thuộc tỉnh Bình Dương;

- Thành phố Vũng Tàu thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

 

Ċ

2. Vùng II, gồm các địa bàn:

- Các huyện còn lại thuộc thành phố Hà Nội;

- Các huyện còn lại thuộc thành phố Hải Phòng;

- Ŕhành phố Hải Dương thuộc tỉnh Hải Dương;

- Thành phố Hưng Yên và các huyện Mỹ Hào, Văn Lâm, Văn Giang, Yên Mỹ thuộc tỉnh Hưng Yên;

- Thành phố Vĩnh Yên, thị xã Phúc Yên và các huyện Bình Xuyên, Yên Lạc thuộc tỉnh Vĩnh Phúc;

- Thành phố Bắc Ninh, thị xã Từ Sơn và các hŵyện Quế Võ, Tiên Du, Yên Phong, Thuận Thành thuộc tỉnh Bắc Ninh;

- Các thành phố Hạ Long, Móng Cái thuộc tỉnh Quảng Ninh;

- Thành phố Thái NguyêŮ thuộc tỉnh Thái Nguyên;

- Thành phố Việt Trì thuộc tỉnh Phú Thọ;

- Thành phố Lào Cai thuộc tỉnh Lào Cai;

- Thành phố Ninh Bình thuộc tỉnh Ninh Bình;

- Thành phố Huế thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế;

- Các quận, huyện thuộc thành phố Đà Nẵng;<įspan>

- Thành phố Nha Trang và thị xã Cam Ranh thuộc tỉnh Khánh Hòa;

- Các thành phố Đà Lạt, Bảo Lộc thuộc tỉnh Lâm Đồng;

- Thành phố Phan Thiết thuộc tỉnh Bình Thuận;

- Huyện Cần giờ thuộc thành phố Hồ Chí Minh;

- Thị xã Long Khánh và cácĠhuyện Định Quán, Xuân Lộc thuộc tỉnh Đồng Nai;

- Các huyện Phú Giáo, Dầu Tiếng thuộc tỉnh Bình Dương;

- Huyện Chơn Thành thuộc tỉnh Bình Phước;<įspan>

- Thị xã Bà Rịa và huyện Tân Thành thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu;

- Thành phố Tân An và các huyện Đức Hòa, Bến Lức, Cần Đước, Cần Giuộc thuộc tỉnŨ Long An;

- Thành phố Mỹ Tho thuộc tỉnh Tiền Giang;

- Các quận thuộc thành phố Cần Thơ;

- Thành phố Rạch Giá thuộc tỉnh Kiên Giang;

- Thành phố Long Xuyên thuộc tỉnh An Giang;

- Thành phố Cà Mau thuộc tỉnh Cà Mau.

 

ļb>3. Vùng III, gồm các địa bàn:

- Các thành phố trực thuộc tỉnh còn lại (trừ các thành phố trực thuộc tỉŮh nêu tại vùng I, II);

- Thị xã Chí Linh và các huyện Cẩm Giàng, Nam Sách, Kim Thành, Kinh Môn, Gia Lộc, Bình Giang, Tứ Kỳ thuộc tỉnh Hải Dương;

 

- Thị xã Phú Thọ và các huyện Phù Ninh, Lâm Thao, Thanh Ba, Tam Nông thuộc tỉnh Phú Thọ;

- Các huyện Gia Bình, Lương Tài thuộc tỉnh Bắc Ninh;

- Các huyện Việt Yên, Yên Dũng, Hiệp Hòa, Tân Yên, Lạng Giang thuộc tỉnh Bắc Giang;

- Các huyện Hoành Bồ, Đông Triều thuộc tỉnh Quảng Ninh;

- Các huyện Bảo Thắng, Sa Pa thuộc tỉnh Lào Caũ;

- Các huyện còn lại thuộc tỉnh Hưng Yên;

- Thị xã Sông Công và các huyện Phổ Yên, Phú Bình, Phú Lương, Đồng Hỷ, Đại Từ thuộc tỉnh Thái Nguyên;ļ/span>

- Huyện Mỹ Lộc thuộc tỉnh Nam Định;

- Các huyện Duy Tiên, Kim Bảng thuộc tỉnh Hà Nam;

- Th᷋ xã Tam Điệp và các huyện Gia Viễn, Yên Khánh, Hoa Lư thuộc tỉnh Ninh Bình;

- Thị xã Bỉm Sơn và huyện Tĩnh Gia thuộc tỉnh Thanh Hóa;

- Huyện Kỳ Łnh thuộc tỉnh Hà Tĩnh;

- Thị xã Hương Thủy và các huyện Hương Trà, Phú Lộc, Phong Điền, Quảng Điền, Phú Vang thuộc tỉnh Thừa Thiên - Huế;

- Các huyện Điện Bàn, Đại Lộc, Duy Xuyên, Núi Thành thuộc tỉnh Quảng Nam;

- Các huyện Bình Sơn, Sơn Tịnh thuộc tỉnh Quảng Ngãi;

- Thị xã Sông Cầu thuộc tỉnh Phú Yên;

- Các huyện Cam Lâm, Diên Khánh, Ninh Hòa, Vạn Ninh thuộc tỉnh Khánh Hòa;

- Các huyện Ninh Hải, Thuận Bắc thuộc tỉnh Ninh Thuận;

- Huyện Đăk Hà thuộc tỉnh Kon Tum;

- Các huyện Đức Trọng, Di Linh thuộcĠtỉnh Lâm Đồng;

- Thị xã La Gi và các huyện Hàm Thuận Bắc, Hàm Thuận Nam thuộc tỉnh Bình Thuận;

- Các huyện Trảng Bàng, Gò Dầu thuộc tỉnh Tây NinŨ;

- Các thị xã Đồng Xoài, Phước Long, Bình Long và các huyện Đồng Phú, Hớn Quản thuộc tỉnh Bình Phước;

- Các huyện còn lại thuộc tỉnh Đồng Nai;<įspan>

- Các huyện Long Điền, Đất Đỏ, Xuyên Mộc, Châu Đức, Côn Đảo thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu;

- Các huyện Thủ Thừa, Đức Huệ, Châu Thành, Tân Trụ, Thạnh Hóa thuộc tỉnh Long An;

- Thị xã Gò Công và huyện Châu Thành thuộc tỉnh Tiền Giang;

- Huyện Châu Thành thuộc tỉnh Bến Tre;

- Các huyện Bình Minh, Long Hồ thuộc tỉnh Vĩnh Long;

- Các huyện thuộc thành phố Cần Thơ;ļ/span>

- Thị xã Hà Tiên và các huyện Kiên Lương, Phú Quốc, Kiên Hải, Giang Thành, Châu Thành thuộc tỉnh Kiên Giang;

- Thị xã Tân Châu thuộc tỉnh An GiaŮg;

- Thị xã Ngã Bảy và các huyện Châu Thành, Châu Thành A thuộc tỉnh Hậu Giang;

- Các huyện Năm Căn, Cái Nước, U Minh, Trần Văn Thời thuộc tỉnhĠCà Mau.

4. Vùng IV, gồm các địa bàn còn lại.


 

 

Số lượt xem : 458

Các tin khác